Mẹ tin.
- Nhưng chú Hùng sẽ không hết buồn. Con thấy chú ra nhà sau ngồi một mình. Chú cũng chẳng thèm cột con bò.
- Không sao đâu con.
- Ngày mai con sang chơi với cô Hồng được không?
- Ðược. Nhưng con phải hỏi cô có đồng ý không đã.
- Con biết rồi.
Trăng đã lên, sáng vằng vặc. Có nghĩa là trời không mưa. Những đám mây trắng tinh như gấu bông bay nhởn nhơ; lúc thì bay qua, lúc thì bay
lại, có lúc dồn ép vào nhau như những núi tuyết.
Lại có một đám mây như
hình em bé trôi nhẹ đi, cổ quàng một chiếc khăn lớn. Mặt trăng tròn vành vạnh nhô ra ở giữa như cái nôi bập bềnh, lúc thì lồng bên dưới đứa trẻ, lúc thì chạy lên phía trên không thể nào đoán trước được. Người ta nói
trong mặt trăng có chị Hằng. Chị đẹp lắm nên lúc nào cũng giấu mặt trong những lưới mây. Tôi chỉ thích trong mặt trăng có một đứa bé như con cô
Hồng chẳng hạn. Một đứa bé sẽ làm cô Hồng cười khi từ trạm xá về, chú
Hùng sẽ không khóc, mọi người đến thăm có cái để bồng, để ha hả. Người
ta sẽ không né câu hỏi: “Em bé đâu rồi?”. Người ta sẽ nói: “Cho tôi ẵm
bé Thương một chút coi”. Cô Hồng sẽ có cớ lâu lâu than phiền: “Dạo này
con bé quậy quá. Em chẳng ngủ gì được”. Chú Hùng đi làm về sẽ hỏi: “Con
gái tui ở nhà có hư không?”, hoặc sẽ đùa: “Cô ở đâu mà cứ đến nhà tui
khóc nhè vậy cà!”.
Mẹ tôi nói một đứa bé sẽ trao cho người phụ nữ một cái quyền thiêng liêng nhất, quyền làm mẹ. Không có đứa bé, họ sẽ không được làm mẹ. Họ
sẽ đau khổ lắm. Họ sẽ thấy mình mất đi một nửa cuộc đời. Bởi cuộc đời
người phụ nữ luôn gắn liền với những đứa bé, là kho báu quí giá không có gì có thể đánh đổi với họ.
- Rồi cô Hồng sẽ có em bé khác chứ mẹ?
- Ừ. Nhưng cô sẽ không bao giờ quên được bé Thương. Một người mẹ luôn yêu tất cả các con mình dù cho nó không còn có mặt.
Tôi ôm chầm lấy mẹ. Tôi biết mẹ sung sướng hơn cô Hồng vì mẹ có em
bé là tôi. Những lúc có khách lạ đến nhà, mẹ sẽ hãnh diện nói: “Con tôi
đó, con trai, một thằng lỳ ơi là lỳ…”, và mẹ sẽ mỉm cười vì hạnh phúc.
Tôi sang thăm cô Hồng. Cô ngồi đan nón, mắt buồn so. Cô buồn vì
không được làm mẹ. Chú Hùng cũng đã bỏ dở việc ruộng rẫy, ở nhà quanh
quẩn. Chú đi ra đi vào bứt rứt vì không được làm bố. Nhìn cô đan len,
tôi chợt thấy cô thật giống mẹ tôi, dịu dàng từng đôi tay một. Bàn tay
đó khi ẵm đứa bé thì vững vàng, khi làm lụng thì khéo léo. Bàn tay của
người đàn ông sẽ không được như vậy.
Tự dưng tôi muốn nói với cô như vầy: “Cô Hồng ơi, tối hôm qua con
thấy bé Thương. Nó núp trên mặt trăng. Nó đẹp lắm. Mặt sáng bừng như có
điện”. Nhưng tôi chỉ nói: “Cô Hồng ơi, đêm qua trong giấc mơ của con có
cả cô nữa”.
Chương 13: Bà Ma-xơ đàn
Cách nhà tôi khoảng ba cây số có một nhà thờ nhỏ. Tụi thằng Toàn
hay rủ tôi đến đó xem các bà ma-xơ: đầu trùm khăn trắng đi qua đi lại,
không thấy chân. Ðã nhiều lần chúng tôi nói với nhau, cái chân của bà
ma-xơ phải nhỏ lắm nên bà mới giấu trong chiếc áo thụng lùm xùm. Nói là
nhà thờ nhưng chỉ gấp đôi căn nhà tôi, cửa nẻo trống hoác không còn cánh cửa.
Bố tôi nói ngày xưa nhà thờ đẹp lắm, vôi trắng toát, hàng rào gỗ
chạy dọc nhưng chiến tranh đã không chừa thứ gì. Rồi thời gian không
được tu bổ, nó cũ kỹ và tàn úa.
Vùng tôi ở chỉ có một vài nhà theo đạo, người ta gọi họ là những
con chiên. Vì con chiên ít quá nên cũng không giúp được gì nhiều, ngoài
những lúc rảnh rỗi khỏi việc cày cấy, họ tụ tập sau nhà thờ phụ các bà
ma-xơ cuốc đất. Các bà ma-xơ cũng như những người nông dân ở đây, họ
trồng hoa, trồng rau, trồng lúa, chỉ có khác là họ làm việc trong khu
đất của nhà thờ. Người dân ở đây gọi là “đất của ma-xơ”. Ðất màu mỡ lắm, trồng cái gì cũng tốt. Hoa mọc từng luống đỏ chói.
Ngoài việc trồng trọt, các bà ma-xơ luôn ở trong nhà. Có cả thảy là bốn ma-xơ. Họ không nói chuyện với nhau, chưa bao giờ tôi thấy họ nói
chuyện. Họ cứ im lặng đi ra đi vào.
Từ vùng ngoài khu đất ma-xơ, chúng tôi theo dõi họ. Họ có nhiều cái để nhìn. Ví dụ chiếc áo. Thông thường người ta làm ruộng với những
chiếc áo xấu xí, thì các bà ma-xơ ngược lại, lúc nào cũng bận những
chiếc áo trắng tinh, sạch sẽ. Họ giống những người dạo chơi trong vườn
hơn là làm vườn.
Có nhiều lần tôi đi xuống nhà thờ một mình. Tôi thích vậy vì cảm
giác vừa sợ vừa khoái trá khi chui vào một hốc kẹt rồi lắng nghe tiếng
bước chân của các bà đi đi lại, mà không hề biết sự có mặt của tôi. Tôi
ngồi cho đến khi mặt trời gần lặn, thế là sung sướng đi về.
Tôi phải công nhận với lũ bạn, các bà ma-xơ là những người khó hiểu nhất. Chúng tôi hay mò vào nhà thờ lúc các bà đang trồng trọt. Qua cánh cửa chính là một gian phòng rộng mênh mông. Ngoài cái bàn thờ lớn để
trên bục ra, nhà thờ chỉ có vài hàng ghế và một cái hộp gỗ vuông. Tôi
chưa bao giờ thấy một căn phòng rộng và trống trải như vậy. Sau gian
phòng là những cái phòng nhỏ, nơi các bà ma-xơ ngủ. Gia tài của các bà
là những cuốn sách dày và những bộ quần áo dài màu trắng. Bố tôi nói cái hộp gỗ vuông mà tôi thấy là cây đàn piano.
Những buổi chiều hoặc tối, các bà hay chơi đàn. Tiếng đàn vọng ra
bên ngoài hàng rào nghe thật xa lạ và buồn thiu. Cả nhà thờ như chìm vào trong bóng tối, ngoại trừ tiếng đàn là lung lay, là động đậy. Cây đèn
dầu đặt trên bàn thờ nhỏ xíu và đó cũng là nguồn sáng chính cho căn nhà.
Nhưng buổi chiều thứ bảy, các bà chơi đàn sớm hơn thường lệ, nên
thằng Toàn hay rủ tôi đi xem. Qua cái lỗ tò vò, tôi thấy một bà ngồi đàn và ba bà ma-xơ còn lại đứng hát như trên sân khấu. Khi hát, thỉnh
thoảng họ đưa hai bàn tay về phía trước rồi lại úp vào ngực. Cử chỉ đó
luôn luôn không đổi trong mọi bài hát. Khuôn mặt các bà ngẩng lên cao,
trang nghiêm, say đắm. Sau mỗi bài hát, họ cũng không nói chuyện với
nhau. Người chơi đàn dạo qua bản khác như có sự thỏa thuận từ trước.
Cuốn nhạc dày cộm đặt trên cây đàn, màu vàng úa được các bà lật nhẹ,
thận trọng như sợ rách. Cử chỉ đó đã cho các bà một dáng vẻ khác người.
Chúng tôi thường bỏ về giữa chừng vì không còn cái gì để xem. Khi
đến, các bà đã chơi đàn rồi và khi về các bà vẫn đang còn chơi đàn. Dầu
vậy phải công nhận, các bà ma-xơ có cái gì đó đã lôi cuốn tôi kinh
khủng. Cứ cách một vài hôm là tôi lại mò xuống nhà thờ. Ði quẩn quanh
trong ngôi nhà trống hoác, rồi chui vào hốc kẹt khi thấy những cái bóng
trắng thấp thoáng; hoặc nhìn các bà ma-xơ chơi đàn qua cái lỗ tò vò. Có
hôm, tiếng nhạc du dương làm tôi ngủ lúc nào không hay, khi đang ngồi
trong hốc kẹt. Khi thức dậy thì trời đã tối, các bà ma-xơ cũng không
thấy đâu, tôi thấy nhà thờ như một lâu đài bỏ hoang trong những câu
chuyện cổ tích. Dầu mọi ngóc ngách bên trong tôi đều biết, nhưng vẫn có
một cái gì đó bí ẩn mà tôi cần phải khám phá thêm.
Mùa mưa năm đó kéo dài lê thê. Mẹ tôi nói chưa bao giờ thấy một mùa mưa dài như vậy. Cây ngoài vườn xanh mướt vì liên tục được tắm gội.
Trong những trận mưa như vậy, tôi hay rủ thằng Toàn xuống nhà thờ. Chúng tôi chui vào góc kẹt quen thuộc, rồi lắng nghe tiếng mưa lẫn tiếng đàn. Tôi phát hiện ra một điều: những hôm mưa các bà luôn chơi đàn và luôn
chơi hay hơn. Tôi đã tìm được một chỗ ngồi gần các bà nhất mà vẫn không
bị phát hiện. Chỗ ngồi đó chỉ cách các bà một vách mỏng. Các bà ma-xơ
đang vừa đàn vừa hát say mê.
Bỗng một bà đi đến chỗ chúng tôi ngồi, nói vọng qua lỗ tò vò:
- Ai đó, vào đi.
Vụt một cái, thằng Toàn nhảy phắt qua bờ rào chạy thoát. Tôi chạy
theo nhưng vấp phải một vật gì đó, té nhào, nằm bẹp. Khi tôi ngóc đầu
lên đã thấy đôi chân của bà ma-xơ đứng trước mặt. Ðó là một đôi chân nhỏ xíu, trắng hồng. Một đôi chân hoàn toàn chạm đất.
- Con có sao không? Ðừng sợ. Bà không bắt con nít bao giờ.
Tôi khóc òa. Bà dẫn tôi vào nhà, đặt ngồi trên chiếc ghế gần cây piano.
Một bà hỏi:
- Con có thích nghe hát không?
Tôi gật đầu:
- Nhưng bà đừng đến gần con, con sợ lắm đó!
- Rồi rồi, không sao cả! Các bà cười hiền hậu. Con có thể đến đây chơi bất cứ lúc nào con muốn.
Tôi khoe với thằng Toàn là đã quen với bà ma-xơ. Nó không tin. Nó
còn thông báo với cả lớp rằng tôi đã nói xạo như thế nào. Thế là tôi
phải dẫn bọn chúng xuống nhà thờ. Chúng tụ tập bên ngoài hàng rào còn
một mình tôi đi vào bên trong. Tôi nắm tay ma-xơ Hiền, dắt ra phía trước rồi chỉ vào bọn chúng. Thế là bọn chúng ù té chạy quắn đít.
Từ đó chúng thần tượng tôi lắm. Chúng nhờ tôi cho chúng làm quen
với các bà ma-xơ. Nhưng ngu gì, tôi nói là ma-xơ rất ghét con nít. Ðứa
nào héo lánh sẽ bị bà lấy cù nèo móc giò.
Kể từ đó, vào ra nhà thờ chỉ độc quyền cho một mình tôi. Những buổi chiều rảnh rỗi, tôi đến thăm các bà ma-xơ, ngồi nghe họ hát. Những bài
hát lạ lùng ca tụng về một nguồn sáng nào đó.
- Con có biết hát không? Ma-xơ hỏi.
- Có. Nhưng không giống những bài của ma-xơ.
- Chẳng sao cả!
Tôi hát bài “Người mẹ vĩnh cửu” mà bố tôi dạy:
Mẹ có đôi tay rộng lớn ôm cả thế
gian con nít.
Mẹ có đôi mắt màu xanh lơ lúc da
trời vừa đổ mưa xong.
Mẹ là hoàng hôn của một ngày luôn
luôn là buổi chiều.
Mẹ, mẹ tôi, người mẹ vĩnh cửu…
Có một lần tôi gặp thằng cháu ông lão ăn xin trong nhà thờ. Mặt nó
vẫn vậy, vênh lên, nhưng đôi mắt không còn căm phẫn như tôi gặp lần
trước. Vừa thấy tôi, nó bỏ đi. Tôi biết trong túi nó có hai hộp diêm.
Từ dạo phát hiện nó ngủ trong vườn, bố tôi bảo kệ nó, làm lơ cho
nó. Thỉnh thoảng bố còn để một vài trái ổi dưới bụi lài. Bố chơi trò
người lạ mặt. Có hôm tôi còn thấy bố ra vườn nhìn nó ngủ. Bố nói, nó là
món quà của bố. Khi trồng một khu vườn mà không có ai đến thăm, không có ai yêu nó thì đó là một nỗi buồn hơn là niềm vui. Những buổi trưa, bố
cấm ngặt tôi ra vườn. Bố để dành khu vườn cho nó. Tự dưng tôi thấy ghen
tức. Tôi kể mọi chuyện cho thằng Tí nghe. Thế là chúng tôi làm một cái
bẫy: cột những hộp lon với nhau rồi dẫn một đầu dây vào nhà. Khi nó xuất hiện dưới bụi lài, chúng tôi giật dây loạn xạ. Tiếng động vang lên khắp vườn và nó bỏ chạy trối chết… Hôm sau tôi thấy mặt mũi tay chân nó
đầy vết xước, có lẽ bị gai cào khi chạy trốn. Chúng tôi ân hận vô cùng.
Tôi hứa không tái diễn trò đó nữa. Nhưng cũng từ đó không thấy nó ghé
lại nhà tôi. Bố tôi hỏi và tôi giấu biến. Tôi không có can đảm nhận lỗi
về mình. Khi nhận lỗi, tôi thấy mình hổ thẹn nhiều lắm. Có nhiều lần tôi muốn bắt chuyện với nó, nhưng khi gặp khuôn mặt vênh