Tôi hỏi lại.
Nó nói:
- Mày có đáng gì để tao nhớ chứ!
Thế là bọn tôi gây lộn với nhau.
Nhưng tất cả chỉ là tưởng tượng thôi. Không hiểu sao, tôi cứ nghĩ nó không thể quên được chuyện đó.
Trên đường dẫn ông lão đi, hẳn nó sẽ nói:
- Bọn chúng đều xấu cả. Bọn chúng tranh giành những con dế, những khu vườn với con.
Rồi hai ông cháu họ vui vẻ dấn bước. Càng đi, họ càng rời xa tôi
mãi, càng bước gần hơn với khu vườn của họ. Tôi vĩnh viễn đứng bên đây,
hun hút xa cùng với nỗi ân hận.
Bố tôi vẫn nói, khi nhìn theo bóng một người mà ta không thể quên được, chúng ta sẽ thấy “nỗi nhớ” của mình.
Chương 15: Những ngày bình thuờng
Mùa mưa ẩm thấp lại đến. Những cơn mưa đêm lướt qua, vừa lạnh lẽo
vừa ồ ạt. Bằng cái màu trắng của mình, chúng đã biến đổi cả một khoảng
trời trong giấc ngủ tôi
Tôi hay sang nhà chú Hùng, chui vào cái ụ rơm như một con chim chui vào cái tổ. Tôi cũng hay tưởng tượng mình sẽ mọc cánh, những cái cánh
dài vừa vặn với thân thể của tôi. Một buổi chiều đầy gió tôi bay về phía cuối bầu trời. Nơi đó có những đám mây mang gương mặt của bé Thương.
Vào ngày nắng, tôi xếp đôi cánh vào cái sọt nhỏ để dưới gầm gường của mình. Hàng đêm đôi cánh vẫn cứ mọc dài và ngúc ngoắc.
Trong những giấc mơ lơ đãng, tôi cũng có một đôi cánh khác. Ðó là
những đôi cánh vải mềm và trong suốt đưa tôi đi. Nhưng tôi cũng biết
trong những giấc mơ, tôi có bay cao xa cũng không ra khỏi khu vườn. Tôi
đã hiểu thế nào là một khu vườn rồi. Tôi cần đi đến một nơi khác khu
vườn tôi đã có. Tại sao không chứ? Mẹ tôi nói, khi một đứa trẻ lớn lên,
chúng cần biết nhiều điều bên ngoài khu vườn. Mẹ đã hé cho tôi thấy một
khu vườn không bao giờ đủ cho một đứa trẻ.
Tôi đã âm thầm vùi bốn củ khoai vào tro nóng mỗi đêm. Tôi sẽ làm
công việc đó liên tục hàng ngày. Một ngày nào đó, chắc chắn nó sẽ đến,
khi cảm thấy đủ sức rời khỏi khu vườn, tôi sẽ có bốn củ khoai nóng mà
đem theo.
Nhưng mùa mưa cứ dai dẳng và âm ỉ khiến sự chờ đợi của tôi mòn mỏi
dần và tôi quên nó. Một ngày nọ bỗng nhớ đến, ôi thôi, củ khoai đã thành tro rồi còn đâu. Tôi cười xòa rồi quên cái ý định ra đi. Thành thật mà
nói, với bốn củ khoai đó, tôi chỉ có thể xa mẹ đúng một ngày. Một củ cho điểm tâm, ba củ còn lại dành cho sáng, trưa và chiều. Tôi chưa bao giờ
có thể xa mẹ hơn thế nữa. Tôi đành giấu kín chuyện này, xem nó như là
một bí mật của đời tôi.
Từ ngày không được làm bố, chú Hùng ít ghé nhà tôi. Mẹ tôi nói, chú muốn lao vào công việc để quên bé Thương. Tờ mờ sáng, chú đã vác cuốc
ra đồng cho đến tối mịt mới trở về. Cô Hồng đã đi làm lại. Cô có vẻ hơi
ốm, chiếc áo dài màu xanh trông rộng hẳn. Khuôn mặt gầy gầy, âu lo. Tôi
hay sang thăm cô vào mỗi buổi chiều, phụ cô làm một cái gì đó. Cô đã đan xong chiếc nón cho tôi như đã hứa. Những hôm mưa, tôi đem ra đội và
ngồi thu lu nhìn ra khu vườn trong hơi ấm từ chiếc nón phả ra. Tôi thấy
ấm lòng hẳn. Tôi hay nghĩ ngợi nếu có bé Thương, chắc cô Hồng sẽ đan cho nó nhiều cái như vậy, những chiếc nón thật đẹp. Nếu là con gái sẽ thêm
nhiều cái tua, những tua xanh đỏ như tôi vẫn thường thấy người ta bán
ngoài chợ.
Một ngày lạ, vườn tôi bỗng xuất hiện loài hoa mới, cánh vàng nhụy
trắng. Tôi âm thầm chờ đợi nó lớn lên, âm thầm nâng niu như một đứa trẻ. Những bông hoa lạ luôn gây cho tôi cảm giác ai đó đã ghé khu vườn lúc
tôi đang ngủ. Họ ngồi chờ mãi không được, đành gieo mầm hoa xuống đất
rồi bỏ đi mà không kịp gởi gấm hãy chăm sóc giùm tôi, hãy tưới nước ngày ba lần.
Bố tôi vẫn nói phần thưởng cho người làm vườn là hoa quả.
Cuối mùa mưa, cây hoa đó nảy ra nhiều nhánh và hạt của nó đã mọc ra nhiều cây con. Tôi đã hái tặng cô Hồng đóa hoa đẹp nhất, vào một ngày
đẹp nhất. Cô trìu mến nhìn tôi. Ngay cả đêm về, co mình trong chăn, tôi
cũng không thể nào quên được ánh mắt ấy. Ðó là cái nhìn của một người mẹ dành cho con. Tôi đã ngủ suốt đêm ngon giấc chỉ vì cái nhìn đó.
Sáng ra, cảm giác là lạ choáng váng cả phòng. Một bàn tay ai đó đang nắm cái chân tôi, giọng nói quen quen:
- Ai đang “nướng” trong cái mền vậy cà!
Tôi hét lớn:
- Chú Hùng!
Chú cười sằng sặc dưới cái chân tôi.
- Tại sao chú không báo trước cho cháu biết chú sẽ sang đây? Cháu sẽ thức nguyên đêm chờ chú.
- Ðể làm gì vậy cà! Ai mướn vậy cà! – Chú cười khùng khục.
Lâu lắm rồi tôi quên luôn cái cảm giác ôm cổ chú, cái cần cổ của người anh hùng, to lớn, vững chãi.
Tôi nói:
- Lâu rồi, cháu chưa được ôm cái cổ của chú. Chú cũng không chịu ăn cái chân của cháu nữa.
Mẹ tôi nói khi chú Hùng sang đây tức là chú đã nguôi ngoai chuyện bé Thương.
Chương 16: Những người lạ
Quê tôi thỉnh thoảng hay có một đoàn sơn đông mãi võ ghé sang. Họ
đi một đoàn khoảng chục người trên một chiếc xe ngựa kéo. Phía trước cắm lá cờ đầy chữ Tàu, lại vẽ rằn ri những hình thù kỳ dị. Họ treo bên hông xe những cái bồ lát bịt kín. Ði đến đâu, gây huyên náo đến đó bằng
tiếng phèn la, tiếng rao ơi ới… Họ mang theo cả những bà vợ, những đứa con. Người lớn thì ngồi bên ngoài, trẻ con được lèn chặt bên trong cùng những cái thùng, có khi cả mùng mền chiếu gối đổ sập lên đầu chúng. Lâu lâu bọn trẻ khóc ré lên, thế là bà mẹ dí cái đầu nó ra ngoài cho nhìn
một chặp. Hết khóc lại kéo tuột vào trong. Mẹ tôi kể ngày xưa họ đi đông lắm, càng ngày số lượng người càng ít dần, lâu lắm mới ghé lại.
Có rất nhiều đứa trẻ được nuôi lớn lên trên chiếc xe ngựa như vậy.
Còn nhỏ chút xíu, chúng đã biết cho ngựa ăn. Ba tuổi đã cầm ca đi bán
thuốc, lẫm chẫm theo người lớn. Những đoàn ít người hơn thì đi đến đâu
tìm thêm người đến đó. Họ dụ dỗ trẻ con hay lắm, có nhiều đứa bé đi
theo, thế là quên cả đường về.
Ðây là lần đầu tôi thấy họ. Họ quây một góc chợ bằng những tấm bạt
cho trẻ con có chỗ nằm ngồi, sau đó dọn dẹp một miếng đất trống lớn hơn, cắm cây cờ chính giữa. Những cái bồ lát bịt kín được đem bày ra. Con
nít bu đen, họ cấm ngặt.
- Ê, thằng kia, tránh ra. Mày có biết cái bồ đó chứa gì không? Rắn độc, rắn độc đấy!
Thế là cả bọn hoảng kinh lên.
Tiếng nói của họ ồm ồm như sấm. Khuôn mặt đầy râu bặm trợn, tay
chân vạm vỡ khiến cái trừng mắt của họ uy lực khủng khiếp. Nhưng họ cũng rất vui tính, lâu lâu lại đùa với trẻ con, đá đít đứa này, đá đít đứa
kia.
Thằng Tí kéo tôi lọt thỏm vào trong gian hàng của họ. Nó lanh lẹ
hơn tôi nên thỉnh thoảng được những người trong đoàn nhờ vịn cái này,
vịn cái kia cho họ giăng dây hoặc lèn những vật nặng.
Sung sướng lắm, mặt vênh lên, nó bảo tôi:
- Mày có muốn vịn không, tao cho mày vịn đấy!
Tôi làm như bất cần.
Loáng một cái họ đã sắp đặt mọi thứ trông rất oách. Ðầu bên này là
ba cây giáo dài chụm lại, cột nơ đỏ. Ðầu bên kia là cái bàn chông kèm
theo mấy trái dừa khô. Họ mở những cái bồ lát, quả thật, bên trong đầy
rắn độc. Những con rắn ngóc cổ cao.
Họ bảo thằng Tí:
- Mày có thích đánh trống không? Cho mày đánh đó.
Thế là tôi và thằng Tí nhảy tót vào, mỗi thằng một cái dùi, đánh, đấm, chặt, ỏm tỏi.
Cả khu chợ náo động hẳn. Người lớn trẻ con bu đông nghẹt. Nhưng họ
luôn luôn không vội vàng gì, cứ từ từ nhẩn nha. Ðến một lúc nào đó,
người trưởng đoàn vỗ tay, thế là đồng loạt những người thanh niên cởi
phăng áo, cột ngang bụng một dải lụa nhỏ. Người nào bán thuốc sẽ cột
thêm một cái khăn vàng lên cổ. Có người còn quấn lên người thêm một con
trăn to đùng.
Ðầu tiên họ sẽ biểu diễn một trò phù phép. Chẳng hạn như bỏ một
đồng tiền cắc vào lỗ tai này, sau đó lấy nó ra ở lỗ tai kia. Thật tài
tình. Họ còn nhờ trẻ con lên xem có đúng là lỗ tai họ hoàn toàn bình
thường không. Sau đó vui vẻ biểu diễn tiếp. Họ có những viên thuốc gia
truyền từ nhiều đời đựng trong những chiếc hộp tròn nhỏ. Ðây là loại
thuốc thần kỳ, da vừa bị rạch, chảy máu đầm đìa, bôi vào sẽ lành ngay.
Họ biểu diễn ngay trước mọi người khiến ai nấy cũng phải tái mặt vì sợ.
Cầm con dao cạo râu bén ngót, họ từ từ rạch một đường nhỏ ở bụng.
Tay bịt vết thương, mặc cho máu chảy ra, họ cứ thản nhiên quảng cáo
thuốc, có khi còn nhờ ai đó pha giùm ly nước chanh để nhấp giọng.
- Phương thuốc này, chúng tôi chỉ bán một số lượng có hạn thôi vì cần phải đem đến những chỗ khác chia đều cho mỗi người một ít.
Ngày nào cũng vậy, cái bụng của họ bị rạch ra, sau đó lại lành.
Những lúc mãn chợ, họ quây quần trong lều. Ðàn ông nằm vắt vẻo đàn hát
nghêu ngao. Ðàn bà thì lo cơm nước, giặt giũ, tắm rửa cho trẻ con.
Thấy chúng tôi, họ vui lắm, ngoắc vào cho ngồi gần. Lâu lâu lại
quay lưng cù đứa này, cù đứa kia. Cũng có lúc họ làm chúng tôi vã mồ hôi khi hăm he sẽ làm biến mất “con chim” của một đứa nào đó. Cả bọn ù té
chạy về, vừa chạy vừa thò tay xuống quần bụm chặt. Về đến nhà mới hay là còn. Khiếp!
Chương 17: Bi kịch
Đêm hôm đó, tôi không tài nào ngủ được. Ngoài trời mưa rả rích trên khu vườn tối om. Ðợi mọi người trong nhà ngủ hết, tôi liền nhẹ đến bên
cửa sổ mở toang nó ra. Hơi lạnh thốc vào, vỗ lên mặt tôi như một bàn tay vô hình bằng nước đá. Từng ngón nhòe ướt, không chỉ năm mà hàng vạn
ngón chà khắp người tôi. Một cú rùng mình ớn lạnh khiến tôi chạy ù vào
gường. Tôi ngủ thiếp đi, ú ớ trong miệng. Ánh sáng từ con rắn trùm kín
người tôi. Một giấc mơ đầy ánh sáng.
Tôi dậy lúc 6 giờ. Cổ rát bỏng, cứ như nuốt phải than. Mẹ nói tôi đã la hét suốt đêm.
Một lần nữa, con rắn hai đầu lại ngọ nguậy trong trí tưởng tượng
của tôi. Cổ ngóc cao, từng lớp vảy trên người lóe sáng kéo tôi nhảy phắt ra khỏi giường.
Tôi chạy sang nhà thằng Tí. Thằng này đáng nghi lắm. Nhìn trước
nhìn sau vắng hoe, chẳng thấy nó đâu. Người lớn đã ra đồng. Chột dạ, tôi chạy ra chợ.
Những người sơn đông mãi võ đang bày biện trên khu đất trống ướt
nhũng nước. Vừa dọn dẹp, họ vừa hát ư ử mệt mỏi. Có lẽ, họ dọn đi trong
nay mai như lời tụi nó nói.
Buồn quá, chẳng thấy nó đâu, tôi quay về nhà. Bố mẹ tôi cũng đã ra
đồng hết cả rồi. Trên bàn là bát cơm mẹ để dành cho tôi. Mẹ luôn làm vậy mỗi buổi sáng.
Tôi bưng tô cơm rồi chui vào cái góc kẹt quen thuộc ăn. Tuy là buổi sáng nhưng cái góc kẹt đó lúc nào cũng tối. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy những con thằn lằn trên tường, rụng đuôi hoặc vừa bò vừa kêu tắc tắc… Chúng là những con thằn lằn tôi đã bắt từ nhà thằng Tí đem về thả, và
thỉnh thoảng dán cho vài hột cơm lên tường. Mẹ vẫn hay đùa là tôi c
Full | Lùi trang 10 |